lựa chọn cho Vẹo cột sống: Áo nẹp, mổ căng dây (VBT) hay mổ hàn xương?
Oct 27, 2026
Với trẻ đang tuổi lớn, áo nẹp chỉnh hình vẫn là lựa chọn đầu tiên và an toàn nhất. Mổ chỉ đặt ra khi áo nẹp không còn đủ hiệu quả. Khi đó, mổ hàn xương vẫn là phương pháp chuẩn, còn mổ căng dây (VBT) là kỹ thuật mới, hứa hẹn nhưng còn nhiều rủi ro.
Tháng 10/2026, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 công bố ca mổ VBT đầu tiên tại Việt Nam cho một bé gái 12 tuổi. Nhiều phụ huynh vì thế băn khoăn có nên chọn phương pháp này. Bài viết giúp anh chị hiểu rõ ba lựa chọn điều trị, ưu nhược điểm và bằng chứng khoa học của từng cách, để cùng bác sĩ đưa ra quyết định phù hợp cho con.
Vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên là tình trạng cột sống cong sang bên kèm xoay đốt sống, thường xuất hiện từ 10 tuổi đến khi hết tăng trưởng. Mức độ được đo bằng góc Cobb trên phim X-quang. Đường cong có thể nặng lên nhanh trong giai đoạn trẻ lớn vọt, vì vậy phát hiện và điều trị sớm là yếu tố quyết định.
So sánh nhanh ba lựa chọn
| Tiêu chí | Áo nẹp chỉnh hình | Mổ căng dây (VBT) | Mổ hàn xương (vít + thanh) |
| Phải mổ không | Không | Có, mổ vào lồng ngực hoặc bụng phía bên | Có, mổ lớn phía sau lưng |
| Mục tiêu | Giảm đường cong khi trẻ còn lớn, tránh phải mổ | Dùng lực dây và sự tăng trưởng để nắn dần đường cong | Nắn và cố định vĩnh viễn đoạn cột sống cong |
| Vận động cột sống | Giữ nguyên | Giữ được phần lớn | Mất vận động ở đoạn được hàn |
| Độ chắc chắn của kết quả | Tốt nếu đeo đủ giờ và áo nẹp làm đúng | Khó dự đoán, có thể nắn quá hoặc thiếu | Ổn định nhất, là tiêu chuẩn vàng |
| Tỷ lệ phải mổ lại | Không áp dụng | Khoảng 15–16% | Khoảng 1–2% |
| Bằng chứng khoa học | Thử nghiệm ngẫu nhiên lớn (BrAIST, 2013) | Chủ yếu nghiên cứu hồi cứu, theo dõi chưa quá 10 năm | Hàng chục năm kinh nghiệm |
| Tiêu chí | Áo nẹp chỉnh hình | Mổ căng dây (VBT) | Mổ hàn xương (vít + thanh) |
| Tại Việt Nam | Phổ biến | Mới có ca đầu tiên (10/2026) | Đã thực hiện thường quy |
| Phù hợp nhất với | Trẻ còn tăng trưởng, góc Cobb khoảng 20– 50° | Trẻ còn tăng trưởng, không đáp ứng áo nẹp, được chọn lọc kỹ | Đường cong lớn hơn 50° khi đã trưởng thành xương, hoặc nặng lên dù đã điều trị |
1. Áo nẹp chỉnh hình — lựa chọn đầu tiên
Áo nẹp là phương pháp duy nhất đã được chứng minh bằng thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng là giúp trẻ tránh phải mổ. Ưu điểm lớn nhất là không xâm lấn, không mất vận động cột sống và không để lại sẹo mổ.
Nguyên lý. Áo nẹp tạo các lực ép và khoảng trống có chủ đích lên thân mình để đẩy cột sống về vị trí thẳng hơn. Khi trẻ còn lớn, cột sống được hướng dẫn tăng trưởng theo vị trí đã nắn chỉnh.
Áo nẹp phải được làm riêng cho từng người. Mỗi đường cong có hình dạng khác nhau, nên áo nẹp cần được kỹ thuật viên chỉnh hình thiết kế và chế tạo cho từng bệnh nhân. Áo nẹp tốt kết hợp nhiều nguyên lý nắn chỉnh (Boston, Chêneau, Milwaukee, nẹp đêm nắn quá mức) thay vì chỉ theo một trường phái. Đường cong được nắn bằng tay ngay khi bó bột lấy khuôn, sau đó áo được hút chân không bằng nhựa nhiệt dẻo. Máy quét 3D hay phần mềm chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế được tay nghề người làm.
Bằng chứng khoa học. Thử nghiệm BrAIST (đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine năm 2013) theo dõi 242 trẻ có nguy cơ cao:
72% trẻ đeo áo nẹp không tiến triển đến ngưỡng phải mổ (50°), so với 48% ở nhóm chỉ theo dõi.
Đeo càng nhiều giờ, hiệu quả càng cao. Trẻ đeo trung bình trên 13 giờ mỗi ngày đạt tỷ lệ thành công 90–93%.
Thử nghiệm được dừng sớm vì kết quả có lợi rõ ràng cho nhóm đeo áo nẹp.
Tổng quan hệ thống Cochrane (Negrini và cộng sự, 2015) gồm 7 nghiên cứu với 662 thanh thiếu niên. Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy áo nẹp ngăn đường cong tiến triển:
Áo nẹp cứng làm tăng tỷ lệ thành công 1,79 lần so với chỉ theo dõi, ở đường cong 20– 40°.
Áo nẹp cứng hiệu quả hơn áo nẹp mềm.
Áo nẹp rất cứng vẫ n có tác dụng ở đường cong trên 45°.
Không ghi nhận tác hại đáng kể. Chất lượng sống, đau lưng và tâm lý sau 16 năm không khác biệt so với nhóm không đeo.
Mức chứng cứ được Cochrane xếp từ trung bình đến rất thấp. Lý do chính là khó làm thử nghiệm ngẫu nhiên vì nhiều phụ huynh không đồng ý để con được chia nhóm ngẫu nhiên.
Hướng dẫn quốc tế SOSORT 2016 khuyến cáo dùng áo nẹp cho trẻ còn tăng trưởng có đường cong từ khoảng 20° trở lên. Áo nẹp nên được thực hiện bởi một nhóm được đào tạo gồm bác sĩ, kỹ thuật viên chỉnh hình và kỹ thuật viên vật lý trị liệu.
Xu hướng mới: áo nẹp cá nhân hóa, nắn chỉnh cao. Áo nẹp làm riêng cho từng người, nắn mạnh đường cong ngay khi mặc, đang là xu hướng chính. Bằng chứng về loại áo này còn ít hơn áo nẹp truyền thống, chủ yếu là nghiên cứu theo dõi hồi cứu, nhưng kết quả nắn chỉnh rất cao:

Vẹo cột sống, Áo nẹp cá nhân hóa, trong lúc bó có thể nắn chỉnh lực trực tiếp
Mức nắn khi mặc áo dự báo kết quả cuối cùng. Một nghiên cứu trên 449 bệnh nhân (Aulisa và cộng sự, tạp chí Children, 2022) cho thấy trẻ còn nhiều tiềm năng tăng trưởng và được nắn tố t trong áo đạt tỷ lệ thành công 87%. Ở nghiên cứu này, “thành công” nghĩa là đường cong giảm hơn 10°, không chỉ đứng yên.
Y văn đề xuất áo nẹp cần nắn được ít nhấ t 30–50% góc cong. Với áo kiểu Chêneau, nắ n trên 40% liên quan rõ đến kết quả tốt.
Áo kiểu Rigo-Chêneau, đánh giá theo tiêu chí chuẩn của Hội Nghiên cứu Vẹo cột sống (SRS), nắn trung bình 53,5% ngay khi mặc. Đường cong thắt lưng được nắn tới 77%, và chỉ 1 trên 32 bệnh nhân phải mổ.
Ngược lại, một nghiên cứu ở Mỹ ghi nhận 76% áo nẹp thông thường chỉ nắn được dưới 30%, thấp hơn mức khuyến cáo. Điều này cho thấy chất lượng thiết kế và chế tạo áo nẹp quyết định hiệu quả điều trị.
Không chỉ giữ, mà còn giảm được góc cong. Với áo nẹp nắn chỉnh cao, đeo đủ giờ, nhiều trẻ được giảm góc cong thật sự sau khi đã tháo áo:
Áo nẹp kiểu Chêneau nắn chỉnh cao (JMIR Rehabilitation and Assistive Technologies,
2024): 33 trẻ trung bình 12 tuổi, góc cong ban đầu 33,6°. Áo nẹp nắn được trung bình 80% khi mặc. Sau khi cai hẳn áo nẹp, 78,8% trẻ có góc cong giảm, 21,2% giữ ổn định, và không trẻ nào nặ ng thêm.
Đường cong nặng trên 45° (The Spine Journal, 2011): 28 trẻ còn tăng trưởng, từ chối mổ, góc cong trung bình 49,4°. Sau khoảng 4 năm đeo áo nẹp cứng toàn thời gian kết hợp tập luyện, 71% có góc cong cải thiện, chỉ 2 trẻ còn trên 50°.
Đường cong 40° trở lên (The Open Orthopaedics Journal, 2017): 25 trẻ với góc cong ban đầu trung bình 49°. Áo nẹp kiểu Chêneau thành công ở 92% trường hợp, cao hơn mức 72% của BrAIST.
Các nghiên cứu này còn nhỏ và phần lớn là nghiên cứu theo dõi, chưa phải thử nghiệm ngẫu nhiên. Tuy vậy, chúng nhất quán cho thấy chất lượng nắn chỉnh của áo nẹp quyết định trẻ chỉ “không nặng thêm” hay thực sự được cải thiện.
Cần lưu ý: “thành công” trong BrAIST chỉ có nghĩa là đường cong dưới 50°. Mục tiêu của chúng tôi cao hơn: giảm thực sự đường cong, đưa về dưới 30° khi trưởng thành xương, vì đường cong 45° vẫn có nguy cơ nặng thêm ở tuổi trưởng thành.
Chỉ định theo góc Cobb (trẻ còn tăng trưởng):
| Góc Cobb | Hướng xử trí |
| Dưới 20° | Tập luyện có giá trị. Cân nhắc nẹp cứng ban đêm nếu có yếu tố bất lợi như đường cong đã nặng thêm hoặc mất cân bằng khung chậu |
| 20–50° | Bắt buộc đeo áo nẹp nắn chỉnh, kết hợp tập luyện |
| Trên 50°, còn tăng trưởng | Vẫn có thể kéo lại bằng áo nẹp nếu áo nẹp nắn được trên 50% góc cong khi mặc |
| Trên 50°, đã trưởng thành xương | Cân nhắc phẫu thuật |
Hạn chế: Trẻ phải đeo nhiều giờ mỗi ngày, liên tục đến khi hết tăng trưởng. Kết quả phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác của trẻ và chất lượng áo nẹp. Áo nẹp cần được kiểm tra, chỉnh sửa định kỳ khi trẻ lớn.
2. Mổ căng dây thân đốt sống (VBT) — kỹ thuật mới, còn nhiều rủi ro
VBT giữ được vận động cột sống, nhưng tỷ lệ đứt dây và phải mổ lại cao hơn hẳn mổ hàn xương, và chưa có dữ liệu dài hạn.
Cách làm. Bác sĩ mổ vào phía bên lồng ngực hoặc bụng, thường qua nội soi. Vít được bắt vào thân đốt sống ở phía lồi của đường cong, rồi nối với nhau bằng một sợi dây polyethylene bền. Kéo căng dây giúp nắn đường cong ngay trong lúc mổ. Sau đó, dây kìm sự phát triển phía lồi, trong khi phía lõm vẫn lớn, nên đường cong tiếp tục được chỉnh khi trẻ lớn lên.
Ưu điểm:
Không hàn xương, giữ được phần lớn khả năng vận động của đoạn cột sống được mổ.
Mất máu ít, hồi phục sau mổ nhanh hơn mổ hàn xương.
Nếu thất bại, vẫn có thể chuyển sang mổ hàn xương.
Rủi ro và bằng chứng khoa học:
Đứt dây là biến chứng thường gặp nhất. Phân tích gộp 16 nghiên cứu (Spine Deformity, 2023) ghi nhận tỷ lệ biến chứng chung 23%, riêng đứt dây 21,9%. Báo cáo gần đây cho thấy khoảng 50% bệnh nhân bị đứt dây sau 36 tháng.
Khoảng một nửa số trẻ bị đứt dây có đường cong nặng thêm (nghiên cứu quốc tế trên 84 bệ nh nhân, Pediatric Spine Study Group).
Phải mổ lại nhiều hơn. Nghiên cứu đa trung tâm của Harms Study Group (122 cặ p bệnh nhân) ghi nhận 16% bệnh nhân VBT phải mổ thêm, so với 1,3% ở nhóm hàn xương. Phân tích gộp năm 2025 cho thấy nguy cơ mổ lại cao gấp khoảng 5,5 lầ n.
Có thể nắn quá mức, khiến đường cong bị đảo chiều và phải mổ để nới dây.
Hiệu quả giảm dần theo thời gian. Một nhóm nghiên cứu ở Mỹ ghi nhận tỷ lệ giữ được góc dưới 30° giảm từ 74% xuố ng 64% sau trung bình 5,7 năm.
Thiết bị VBT đầu tiên được FDA (Mỹ ) cho phép năm 2019 theo diện thiết bị nhân đạo, chỉ dựa trên dữ liệu 57 bệnh nhân. Các thử nghiệm theo dõi dài hạn dự kiến kết thúc năm 2029.
Phù hợp với ai. Trẻ còn tăng trưởng nhiều (Sanders 3 trở xuống là lý tưởng), một đường cong mềm, đã điều trị áo nẹp nhưng không hiệu quả. Đường cong từ 65° trở lên thường được coi là quá nặng cho VBT.
3. Mổ hàn xương (vít + thanh) — tiêu chuẩn vàng khi phải mổ
Khi cần mổ, hàn xương lối sau vẫn là phương pháp chuẩn, cho kết quả ổn định và ít phải mổ lại nhất. Cái giá phải trả là mất vĩnh viễn vận động ở đoạn cột sống được hàn.
Cách làm. Bác sĩ mổ phía sau lưng, bắ t vít vào các đốt sống và nối bằng hai thanh kim loại để nắn đường cong. Sau đó ghép xương để các đốt sống liền lại thành một khố i cứng, cố định kết quả lâu dài.
Ưu điểm
Nắn chỉnh mạnh và chắc chắn nhất. Các phân tích gộp cho thấy hàn xương cho trục cột sống tốt hơn, ít biến chứng và ít phải mổ lại hơn VBT.
Có hàng chục năm kinh nghiệm, kỹ thuật đã chuẩn hóa và được thực hiện rộng rãi tại Việt Nam.
Không phụ thuộc vào việc trẻ còn tăng trưởng hay không.
Nhược điểm:
Đoạn cột sống được hàn mất hoàn toàn vận động giữa các đốt sống. Đoạn hàn càng dài, cột sống càng kém linh hoạt.
Đây là cuộc mổ lớn, thời gian mổ dài, có thể mất máu nhiều và cần truyền máu.
Kết quả không thể đảo ngược.
Bằng chứng so sánh mổ với không mổ còn thiếu. Tổng quan Cochrane năm 2015 không tìm được thử nghiệm nào so sánh hàn xương với điều trị không mổ ở đường cong trên 45°, nên chưa thể kết luận về lợi ích và tác hại lâu dài.
Phù hợp với ai. Đường cong lớn hơn 50° khi đã trưởng thành xương, hoặc tiếp tục nặng lên dù đã điều trị áo nẹp đúng cách.
Nên chọn phương pháp nào?
Thứ tự hợp lý cho trẻ đang tuổi lớn là: áo nẹp trước, mổ sau. Trong các phương pháp mổ, hàn xương là chuẩn, VBT chỉ dành cho số ít trường hợp được chọn lọc kỹ .
- Phát hiện sớm. Kiểm tra lưng cho trẻ từ 9–10 tuổi: vai lệch, xương bả vai nhô, eo hai bên không đều, mất cân bằng khung chậu. Khi nghi ngờ, chụp X-quang toàn bộ cột sống để đo góc Cobb và đánh giá độ trưởng thành xương.
- Điều trị bảo tồn đúng mức. Dưới 20°: tập luyện và theo dõi, cân nhắc nẹp đêm nếu có yếu tố bất lợi. Từ 20° trở lên: áo nẹp nắn chỉnh làm riêng, kết hợp tập luyện.
- Chọn áo nẹp có mức nắn cao. Yêu cầu chụp X-quang khi mặc áo để biết áo nắn được bao nhiêu phần trăm. Mục tiêu nên đạt từ 40–50% trở lên.
- Đeo đủ giờ và tái khám định kỳ. Hiệu quả tăng rõ theo số giờ đeo. Áo cần được chỉnh lại khi trẻ lớn.
- Chỉ cân nhắc mổ khi đường cong vẫn nặng lên dù đã điều trị áo nẹp đúng cách, hoặc vượt 50° khi đã trưởng thành xương.
Nếu bác sĩ đề nghị mổ VBT, anh chị nên hỏi:
Con tôi đã thực sự thất bại với áo nẹp nắn chỉnh tốt chưa?
Độ trưởng thành xương (Sanders, Risser) của con có phù hợp với VBT không?
Nếu dây bị đứt hoặc nắn quá mức thì xử trí thế nào? Chi phí mổ lại ra sao?
Bệnh viện đã mổ bao nhiêu ca VBT và theo dõi được bao lâu? Nếu mổ hàn xương thì cần hàn bao nhiêu đốt sống?
Nguồn tham khảo
Áo nẹp
Weinstein SL và cộ ng sự. Effects of bracing in adolescents with idiopathic scoliosis
(BrAIST). N Engl J Med 2013;369:1512–21. PubMed · NIH
Negrini S và cộ ng sự. Braces for idiopathic scoliosis in adolescents. Cochrane Database Syst Rev 2015;(6):CD006850. Cochrane
Negrini S và cộ ng sự. 2016 SOSORT guidelines. Scoliosis Spinal Disord 2018;13:3. PMC
Aulisa AG và cộ ng sự. Initial in-brace correction… Children 2022;9(3):338. PMC · DOAJ Maruyama T và cộ ng sự. Outcome of Rigo-Chêneau type brace treatment using SRS criteria. Scoliosis 2013;8(Suppl 1):O44. PMC
Evaluation of predictors and outcomes of bracing… in-brace correction. PMC
Gensingen brace high-corrective treatment, feasibility study. JMIR Rehabil Assist Technol 2024;11:e50299. JMIR
Negrini S và cộ ng sự. Idiopathic scoliosis patients with curves more than 45° refusing surgery can be effectively treated through bracing. Spine J 2011;11(5):369–80. PubMed Weiss HR và cộ ng sự. A prospective cohort study of AIS patients with 40° and more treated with a Gensingen brace. Open Orthop J 2017;11:1558–67. Journal
Mổ căng dây (VBT)
Newton PO và cộ ng sự (Harms Study Group). Anterior vertebral body tethering compared with posterior spinal fusion for major thoracic curves. J Bone Joint Surg.
Vertebral body tethering for idiopathic scoliosis: a systematic review and metaanalysis. Spine Deform 2023. PMC
Anterior VBT versus PSF in AIS: systematic review and meta-analysis. J Clin Med
2025;14(19):6707. PMC
Comparative meta-analysis of VBT and PSF in idiopathic scoliosis. PMC
Raitio A và cộ ng sự. VBT: indications, surgical technique, and a systematic review. J Clin Med 2022;11(9):2576. PMC
Evidence-based indications for VBT in spine deformity. Clin Spine Surg 2024;37(3):82– 91. PubMed
Frontiers in Pediatrics 2023: VBT, an alternative to PSF? PMC
What happens to scoliosis after a tether breaks. Children’s Hospital Los Angeles
Mass General Brigham Health Plan, VBT medical policy 2026. PDF
FDA phê duyệ t The Tether 2019. BioSpectrum Asia
Hoernschemeyer và cộ ng sự, theo dõi 5+ năm. University of Missouri
Mổ hàn xương
Bettany-Saltikov J và cộ ng sự. Surgical versus non-surgical interventions in people with AIS. Cochrane Database Syst Rev 2015;(4):CD010663. Cochrane
Tin tức tại Việ t Nam

Your comment