Chân giả ngay sau cắt cụt

Lắp chân giả sớm ngay sau cắt cụt chi dưới: bằng chứng và khuyến cáo

Oct 15, 2026 · @Hoàn

Tóm tắt dễ hiểu

Bằng chứng hiện có nghiêng rõ về phía cho người bệnh đứng và tập đi với chân giả tạm thời càng sớm càng tốt (thường trong vài ngày đến vài tuần sau mổ, khi mỏm cụt cho phép), thay vì chờ 6 tháng hay 1 năm. Lợi ích được ghi nhận nhất quán ở nhóm cắt cụt dưới gối; ở trên gối, hướng đi tương tự nhưng ít nghiên cứu trực tiếp hơn.

Hai lộ trình sau cắt cụt chi dưới · minh họa, tổng hợp từ các nghiên cứu trong tài liệu

Điểm khác biệt cốt lõi: ở lộ trình sớm, người bệnh được đứng và đi ngay trong những tuần đầu, nên cơ thể không kịp suy yếu trong lúc chờ chân giả.

Nói đơn giản cho người không làm chuyên môn:

  • Chân giả đến sớm hơn nhiều tháng. Các nghiên cứu ở Hà Lan, Mỹ, Thụy Điển, New Zealand cho thấy nhóm được băng cứng hoặc theo quy trình lắp sớm nhận chân giả sớm hơn khoảng 2,5 tuần đến 2 tháng so với cách làm truyền thống.
  • Ít biến chứng tại khớp và mỏm cụt hơn. Lắp sớm đi kèm ít co rút gấp khớp gối hơn và, trong một nghiên cứu ở Mỹ, ít phải mổ sửa lại mỏm cụt hơn.
  • Khỏe hơn, sống lâu hơn (có liên quan, chưa chắc là nguyên nhân). Người được kê và lắp chân giả sớm có tỷ lệ tử vong thấp hơn trong các nghiên cứu lớn ở Mỹ và Thụy Sĩ.
  • Tinh thần tốt hơn. Người dùng chân giả có điểm hình ảnh bản thân, lo âu và trầm cảm tốt hơn người không dùng.
  • Đỡ tốn kém hơn cho gia đình và xã hội. Ở Mỹ, nhận chân giả trong 3 tháng đầu đi kèm tổng chi phí y tế năm đầu thấp hơn khoảng 25% và ít phải vào cấp cứu hơn gần một nửa.

Điều cần nói thẳng: chất lượng bằng chứng chưa cao. Tổng quan Cochrane năm 2019 kết luận chưa chắc chắn về lợi ích của băng cứng so với băng mềm vì các thử nghiệm nhỏ và nhiều sai lệch. Phần lớn dữ liệu về tử vong và chi phí là nghiên cứu quan sát, nên một phần lợi ích có thể do người được lắp sớm vốn khỏe hơn. Vì vậy, khuyến cáo quốc tế là lắp sớm cho người phù hợp, do một nhóm đa chuyên ngành đánh giá, không phải lắp sớm cho tất cả.

Các khái niệm cần phân biệt

Trong y văn, “lắp sớm” không phải một kỹ thuật duy nhất mà là một nhóm giải pháp, xếp theo thời điểm bắt đầu chịu lực:

Giải pháp Thời điểm Mô tả ngắn
Chân giả tức thì sau mổ (IPOP) Ngay trong phòng mổ, tập đứng từ ngày 1 Bó bột/máng cứng quanh mỏm cụt gắn với ống trụ và bàn chân giả; chịu lực một phần, có kiểm soát
Băng cứng tháo được (RRD) Từ vài ngày sau mổ Máng cứng bảo vệ, ép phù nề, chống co rút gối; chưa chịu lực, chuẩn bị cho lắp sớm
Dụng cụ tập đi sớm (PPAM aid, AMA, Femurett) Khoảng 1–3 tuần, khi vết mổ ổn Khung tập đi dùng chung, có túi hơi ôm mỏm cụt; dùng trong buổi tập vật lý trị liệu, phổ biến ở Anh
Chân giả tạm thời / chuẩn bị Vài tuần sau mổ, khi vết thương lành Ổ mỏm cụt làm riêng, điều chỉnh được khi mỏm cụt teo dần; người bệnh đi lại hằng ngày
Chân giả vĩnh viễn Khi thể tích mỏm cụt ổn định Thường vài tháng sau mổ
Lắp muộn 6–12 tháng hoặc hơn Chờ mỏm cụt “trưởng thành” với băng thun mềm, không tập chịu lực trong thời gian chờ

Trong tài liệu này, “lắp sớm” bao gồm bốn dòng đầu; điểm chung là người bệnh được đứng và đi trên chi bị cắt cụt trong vài tuần đầu thay vì nhiều tháng.

Bằng chứng về phục hồi chức năng: chân giả đến sớm hơn, ít biến chứng hơn

Lợi ích rõ nhất và lặp lại nhiều nhất của lắp sớm là rút ngắn thời gian từ lúc mổ đến khi có chân giả để đi lại.

Nguồn: van Velzen 2005 (Hà Lan); luận án Karolinska Institutet (Thụy Điển); nghiên cứu băng cứng đúc sẵn (Mỹ) · 3 nghiên cứu, cắt cụt dưới gối

Thời gian đến chân giả. Nghiên cứu hồi cứu ở ba bệnh viện Hà Lan (149 người cắt cụt dưới gối): nhóm băng cứng/lắp sớm nhận chân giả đầu tiên sau trung bình 50 ngày, so với 110 ngày ở nhóm băng thun (van Velzen và cs., 2005). Ở Mỹ, băng cứng đúc sẵn rút thời gian đến lúc bó bột làm chân giả từ khoảng 84 xuống 58 ngày. Tại Thụy Điển, áp dụng một hướng dẫn mới cho cắt cụt dưới gối đã giảm thời gian đến chân giả từ 103 xuống 76 ngày (Karolinska Institutet). Nghiên cứu đa trung tâm CROCS-BKA ở New Zealand (759 ca) ghi nhận nhóm băng cứng tháo được được lắp chân giả sớm hơn khoảng 17 ngày (trung vị) (RACS 2024).

Dụng cụ tập đi sớm. Tại Anh, dùng PPAM aid càng sớm và càng thường xuyên trong giai đoạn nội trú thì càng nhanh đạt các mốc chuyển gửi, bó bột, giao chân giả và xuất viện (Lee và cs., Prosthet Orthot Int 2023). Thử nghiệm ngẫu nhiên HEART (Anh) cho thấy cả hai loại dụng cụ tập đi sớm (PPAM và AMA có khớp gối) đều giúp tốc độ đi tăng có ý nghĩa trong quá trình phục hồi, không khác nhau giữa hai loại (Mazari và cs.).

Biến chứng tại chỗ. Trong nghiên cứu Hà Lan, lắp sớm giảm nguy cơ co rút gấp khớp gối, không làm tăng biến chứng mỏm cụt, nhưng tăng loét tì đè ở chỗ khác (ví dụ gót chân bên lành) (van Velzen 2005). Một phân tích ở Mỹ (72 người) cho thấy nhóm IPOP có tỷ lệ biến chứng toàn thân và vết mổ tương đương, nhưng phải mổ sửa mỏm cụt ít hơn có ý nghĩa (5,4% ở nhóm IPOP); nhóm tác giả khuyên cân nhắc IPOP cho mọi ứng viên phù hợp (Ali và cs., Ann Vasc Surg 2013).

Chức năng. Một nghiên cứu đoàn hệ Thụy Điển tổng hợp rằng thời gian chờ từ cắt cụt đến lắp chân giả kéo dài đã được chứng minh ảnh hưởng xấu đến khả năng đi lại và việc dùng chân giả lâu dài (Southern Älvsborg, Prosthet Orthot Int). Một nghiên cứu ở Iran trên người cao tuổi đái tháo đường cho thấy nhóm băng mềm cần thêm trung bình 148 ngày mới đạt cùng mức tự lập sinh hoạt và chân giả vĩnh viễn như nhóm IPOP (J Rehabil Sci Res).

Sức khỏe toàn thân, tâm lý và chất lượng cuộc sống

Được đứng và đi sớm giúp người bệnh tránh “vòng xoắn bất động”: nằm lâu dẫn đến yếu cơ, co rút khớp, giảm sức bền tim phổi, dễ té ngã và trầm cảm, rồi chính những điều này lại khiến việc tập với chân giả sau này khó hơn.

Vòng xoắn bất động sau cắt cụt · sơ đồ cơ chế, 5 bước

Tử vong. Ở cựu chiến binh Mỹ cao tuổi, người được kê chân giả trong vòng 1 năm sau cắt cụt có nguy cơ tử vong trong 3 năm thấp hơn, kể cả sau khi đã hiệu chỉnh theo tuổi, mức cắt cụt và bệnh kèm; kê càng sớm, nguy cơ càng thấp. Chính các tác giả nhấn mạnh đây là mối liên quan, không phải quan hệ nhân quả, vì người bệnh nặng thường bị trì hoãn lắp chân giả (JRRD 2015, qua Amplitude). Tại Thụy Sĩ, ở người cắt cụt trên gối do bệnh mạch máu, được lắp chân giả là yếu tố độc lập liên quan đến sống còn 5 năm tốt hơn (HR 0,306, tức nguy cơ tử vong thấp hơn khoảng 70%) (Ann Phys Rehabil Med 2023).

Tâm lý. Một nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ trên 92 người cắt cụt chi dưới thấy điểm hình ảnh cơ thể và lo âu – trầm cảm khác biệt có ý nghĩa giữa người dùng và không dùng chân giả (Turk J Phys Med Rehab 2014). Các nghiên cứu IPOP đề cập lợi ích tâm lý khi người bệnh tỉnh dậy sau mổ đã có “chân” và tập đứng từ ngày đầu (Ali 2013); tổng quan trên O&P Edge cho rằng thành công với chân giả có thể một phần nhờ hiệu ứng tâm lý tích cực này (O&P Edge). Hướng dẫn VA/DoD của Mỹ khuyến cáo đánh giá sức khỏe tâm thần ở mọi giai đoạn và cho gặp người đồng cảnh (peer support) càng sớm càng tốt (Amputee Coalition).

Chất lượng cuộc sống và sống độc lập. Ở Phần Lan, 1 năm sau lắp chân giả, 85% người cắt cụt dưới gối và 72% người cắt trên gối đi lại được ít nhất trong nhà, và 88% vẫn sống tại nhà riêng (Helsinki, Prosthet Orthot Int 1990).

Một lưu ý trung thực. Nghiên cứu tại Mayo Clinic đo bằng máy gia tốc thấy người có IPOP sau cắt cụt dưới gối vẫn ngồi/nằm khoảng 88% thời gian trong 6 tuần đầu (Samuelsen và cs., Am J Phys Med Rehabil 2017). Nghĩa là chân giả sớm chỉ phát huy tác dụng khi đi kèm chương trình tập luyện tích cực.

Tài chính gia đình, hệ thống y tế và cộng đồng

Lắp sớm tốn thêm chi phí ở giai đoạn đầu (vật liệu, nhân lực, chân giả tạm thời), nhưng dữ liệu từ Mỹ cho thấy tổng chi phí năm đầu lại thấp hơn, vì người bệnh ít biến chứng, ít nhập viện lại và ít té ngã.

Nguồn: nghiên cứu IMPACT, Am J Phys Med Rehabil 2020 · chỉ số xấp xỉ dựng từ kết quả công bố (−25% và “tương đương”)

  • Chi phí y tế. Nghiên cứu IMPACT trên 510 người cắt cụt chi dưới (dữ liệu bảo hiểm toàn quốc Mỹ): nhận chân giả trong 0–3 tháng đi kèm tổng chi phí y tế trực tiếp 12 tháng thấp hơn khoảng 25%, tức tiết kiệm khoảng 25.000 USD mỗi người so với không có chân giả. Nhận chân giả ở tháng 4–9 có tổng chi phí tương đương nhóm không có chân giả, dù đã tính cả tiền chân giả (Am J Phys Med Rehabil 2020).
  • Cấp cứu và té ngã. Nghiên cứu IMPACT 2 trên cùng cơ sở dữ liệu: nhận chân giả trong 3 tháng đầu giảm 48% khả năng phải vào khoa cấp cứu (OR 0,52); người bị té ngã có nguy cơ vào cấp cứu gấp 2,8 lần (PM&R 2021).
  • Thời gian nằm viện. Quy trình dùng dụng cụ tập đi sớm ở Anh rút ngắn thời gian đến lúc xuất viện nội trú (Lee 2023).

Ý nghĩa với gia đình và xã hội: mỗi tháng người bệnh đi lại được sớm hơn là một tháng người thân không phải nghỉ việc để chăm sóc, bớt nguy cơ phải vào cơ sở dưỡng lão, và tăng cơ hội quay lại làm việc. Lưu ý rằng các nghiên cứu IMPACT do một công ty chân tay giả (Hanger) thực hiện cùng Đại học North Carolina, dựa trên dữ liệu bảo hiểm thương mại Mỹ; con số tuyệt đối không áp dụng thẳng cho Việt Nam, nhưng xu hướng “sớm thì đỡ tốn” có thể được dùng làm luận điểm.

Dưới gối và trên gối

Phần lớn bằng chứng chất lượng nhất là ở cắt cụt dưới gối; với trên gối, nguyên tắc “sớm” vẫn được áp dụng nhưng chủ yếu qua dụng cụ tập đi sớm và chân giả tạm thời, ít dùng IPOP.

Dưới gối (transtibial) Trên gối (transfemoral)
Giải pháp sớm phổ biến IPOP, băng cứng tháo được, PPAM/AMA, chân giả tạm thời PPAM aid, Femurett, chân giả tạm thời có khớp gối khóa được
Mức bằng chứng Nhiều thử nghiệm và đoàn hệ; Cochrane 2019 gồm 9 thử nghiệm (436 người), kết luận còn chưa chắc chắn Ít nghiên cứu so sánh trực tiếp; chủ yếu đoàn hệ và loạt ca
Lợi ích then chốt Chống co rút gấp gối, giảm phù nề, rút ngắn thời gian đến chân giả Chống co rút gấp háng, giữ sức bền, đánh giá sớm ai đi được với chân giả
Khả năng đi lại 1 năm sau (Helsinki) 85% đi được ít nhất trong nhà 72% đi được ít nhất trong nhà
Sống còn Kê chân giả sớm liên quan tử vong thấp hơn (VA, Mỹ) Được lắp chân giả liên quan sống còn 5 năm tốt hơn (Lausanne)

Với người cao tuổi cắt trên gối, Femurett hữu ích để đánh giá xem họ có dùng được chân giả hay không trước khi làm chân giả thật, tránh làm “thử xem sao”; còn PPAM aid được ưu tiên ngay sau mổ vì kiểm soát phù nề tốt hơn (Prosthet Orthot Int 1989). Cắt cụt trên gối tốn nhiều năng lượng hơn khi đi, nên người bệnh càng nằm lâu càng khó lấy lại sức; đây là lý do lâm sàng mạnh cho việc tập sớm, dù dữ liệu thử nghiệm còn ít.

Ưu điểm và nhược điểm

Lắp sớm có lợi cho đa số người bệnh phù hợp, nhưng có rủi ro thật và đòi hỏi đội ngũ có kỹ năng.

Ưu điểm của lắp sớm Nhược điểm, rủi ro của lắp sớm
Rút ngắn thời gian đến chân giả khoảng 2,5 tuần đến 2 tháng Đòi hỏi kỹ thuật viên chỉnh hình và phẫu thuật viên có kinh nghiệm; bó sai có thể gây tì đè
Ép giảm phù nề, định hình mỏm cụt Khó quan sát vết mổ với bột cố định (IPOP), dễ bỏ sót nhiễm trùng
Giảm co rút gấp gối/háng Tăng loét tì đè ở chỗ khác (van Velzen 2005)
Ít phải mổ sửa mỏm cụt (Ali 2013) Chịu lực quá sớm, quá mức có thể làm bung vết mổ ở người thiếu máu chi
Giữ sức cơ, sức bền, thăng bằng Nguy cơ té ngã khi tập nếu không giám sát
Tác động tâm lý tích cực, sớm lấy lại cảm giác “đi được” Chi phí ban đầu cao hơn băng mềm, cần nhiều lần thay ổ mỏm cụt khi mỏm cụt teo
Liên quan tử vong, chi phí y tế, cấp cứu thấp hơn Bằng chứng thử nghiệm còn yếu (Cochrane 2019)

Lắp muộn (6–12 tháng) có ưu điểm gì? Mỏm cụt ổn định thể tích nên ít phải thay ổ mỏm cụt, chi phí ban đầu thấp và không cần kỹ thuật đặc biệt. Nhưng cái giá là nhiều tháng bất động, co rút khớp, mất sức, nguy cơ không bao giờ dùng được chân giả, và chi phí năm đầu không thấp hơn (IMPACT).

Ai cần thận trọng hoặc chưa phù hợp với chịu lực sớm:

  • Thiếu máu chi nặng, vết mổ có nguy cơ bung cao. Tổng quan trên PM&R 2018 lưu ý khoảng 82% ca cắt cụt là do bệnh thiếu máu; với nhóm này các tác giả ưu tiên băng cứng tháo được không chịu lực (Reichmann, Stevens và cs.).
  • Nhiễm trùng mỏm cụt chưa kiểm soát, cần mổ thì hai.
  • Suy tim, bệnh phổi nặng, sa sút trí tuệ không làm theo hướng dẫn được.
  • IPOP cổ điển chủ yếu được dành cho người cắt dưới gối vốn đi lại tích cực trước mổ (O&P Edge).

Với nhóm này, “sớm” vẫn có nghĩa: băng cứng tháo được, tập vận động, tập thăng bằng và đánh giá khả năng dùng chân giả ngay khi vết mổ cho phép.

Khuyến cáo của các nước phát triển

Các hướng dẫn lớn đều thống nhất về hướng “bắt đầu sớm, có đội đa chuyên ngành”, dù mức độ khuyến cáo còn khiêm tốn do bằng chứng chưa mạnh.

Nước / tổ chức Văn bản Nội dung liên quan đến lắp sớm
Mỹ — Bộ Cựu chiến binh và Bộ Quốc phòng (VA/DoD) Hướng dẫn thực hành phục hồi chức năng cắt cụt chi dưới 2017, cập nhật 2024–2025 (26 khuyến cáo) Đề xuất dùng băng cứng hoặc bán cứng càng sớm càng tốt sau cắt cụt dưới gối; hỗ trợ đồng cảnh sớm; đánh giá tâm lý mọi giai đoạn; cân nhắc chuyển thẳng sang phục hồi nội trú (Amputee Coalition, Scholar USUHS)
Anh — BSRM Tiêu chuẩn và hướng dẫn phục hồi chức năng chân tay giả, ấn bản 3 (2018) Mô hình trung tâm phục hồi chân tay giả, phục hồi sơ cấp ngay sau mổ
Anh — BACPAR (hội vật lý trị liệu) Hướng dẫn trước và sau mổ; hướng dẫn PPAM aid (2008) PPAM aid là dụng cụ tập đi sớm tiêu chuẩn sau cắt cụt dưới gối; dùng sớm giúp rút ngắn thời gian đến chân giả (HRA/NHS)
Hà Lan Hướng dẫn đa chuyên ngành dựa trên bằng chứng 2012, cập nhật 2020 Nêu rõ thực hành còn khác nhau về thời điểm lắp chân giả đầu tiên và đưa khuyến cáo chuẩn hóa (Prosthet Orthot Int 2014, Fard và cs. 2023)
Canada — CADTH (tổng hợp hướng dẫn) Rà soát nhanh về ổ mỏm cụt chân giả Ghi nhận một hướng dẫn khuyến cáo dùng chân giả sau mổ càng sớm càng tốt sau cắt dưới gối (CADTH)
Thụy Điển Hướng dẫn mới cho cắt cụt dưới gối tại bệnh viện Sau áp dụng, thời gian đến chân giả giảm từ 103 xuống 76 ngày (Karolinska)
Pháp, Thụy Sĩ (Pháp ngữ) Lộ trình phục hồi chuẩn Ba giai đoạn: trước lắp, chân giả tạm thời (appareillage provisoire), chân giả vĩnh viễn; chân giả tạm thời giúp đi sớm và giảm thể tích mỏm cụt (HUG Genève, MSD Manuals)

Ghi chú: mình chưa tìm được một khuyến cáo riêng của Haute Autorité de Santé (Pháp) về thời điểm lắp chân giả; dòng Pháp ở trên phản ánh lộ trình thực hành, không phải văn bản HAS.

Mức độ chắc chắn và ý nghĩa thực tiễn

Kết luận hợp lý nhất: lắp sớm được ủng hộ bởi nhiều nghiên cứu cùng chiều và các hướng dẫn quốc tế, nhưng chưa có thử nghiệm lớn, chất lượng cao chứng minh chắc chắn.

Câu hỏi Mức độ chắc chắn Ghi chú
Lắp sớm rút ngắn thời gian đến chân giả? Trung bình Nhiều đoàn hệ cùng chiều; Cochrane vẫn đánh giá rất thấp do sai lệch
Giảm co rút khớp, mổ sửa mỏm cụt? Thấp – trung bình Đoàn hệ hồi cứu (van Velzen, Ali)
Giảm tử vong? Thấp (chỉ liên quan) Người khỏe hơn được lắp sớm hơn; không suy ra nhân quả
Giảm chi phí y tế, cấp cứu? Thấp – trung bình Dữ liệu bảo hiểm Mỹ, nhà tài trợ là công ty chân giả
Cải thiện tâm lý, chất lượng sống? Thấp Chủ yếu so sánh có/không có chân giả, ít so sánh sớm/muộn

Gợi ý khi trình bày cho người bệnh, gia đình và cơ quan chi trả tại Việt Nam:

  1. Đánh giá ngay sau mổ bởi nhóm đa chuyên ngành (phẫu thuật, phục hồi chức năng, kỹ thuật viên chỉnh hình, vật lý trị liệu, tâm lý) để xác định ai phù hợp lắp sớm.
  2. Với người cắt dưới gối, vết mổ ổn: băng cứng tháo được trong tuần đầu, tập đi với dụng cụ tập đi sớm hoặc chân giả tạm thời khi vết mổ cho phép.
  3. Với người cắt trên gối hoặc nguy cơ cao: tập vận động, chống co rút háng, tập thăng bằng ngay; chân giả tạm thời khi đủ điều kiện.
  4. Ổ mỏm cụt điều chỉnh được hoặc thay ổ mỏm cụt khi mỏm cụt teo, thay vì chờ mỏm cụt ổn định hoàn toàn mới làm chân giả.
  5. Theo dõi kết quả bằng thang đo chuẩn (ví dụ TUG, AMP, thời gian từ mổ đến chân giả) để có dữ liệu Việt Nam riêng.

Tài liệu tham khảo

  1. Kwah LK, Webb MT, Goh L, Harvey LA. Rigid dressings versus soft dressings for transtibial amputations. Cochrane Database Syst Rev 2019;(6):CD012427. PMC
  2. van Velzen AD và cs. Early treatment of trans-tibial amputees: retrospective analysis of early fitting and elastic bandaging. Prosthet Orthot Int 2005. PubMed
  3. Ali MM và cs. A contemporary comparative analysis of immediate postoperative prosthesis placement following below-knee amputation. Ann Vasc Surg 2013;27(8):1146–53. eScholarship
  4. Schon LC và cs. Benefits of early prosthetic management of transtibial amputees: a prospective clinical study of a prefabricated prosthesis. Foot Ankle Int 2002;23(6):509–514.
  5. Samuelsen BT và cs. The impact of the immediate postoperative prosthesis on patient mobility and quality of life after transtibial amputation. Am J Phys Med Rehabil 2017;96(2):116–119. Weill Cornell
  6. Reichmann JP, Stevens PM và cs. Removable rigid dressings for postoperative management of transtibial amputations: a review of published evidence. PM&R 2018;10:516–523. Louisville
  7. Lee J và cs. Impact of PPAM aid use on the time to prosthetic limb delivery in patients with unilateral transtibial amputation. Prosthet Orthot Int 2023;47(3):258–264. Stirling
  8. Mazari FAK và cs. Hull Early walking aid for Rehabilitation of Transtibial amputees — randomized controlled trial (HEART). VU
  9. Miller TA, Wurdeman SR và cs. Impact of time to receipt of prosthesis on total healthcare costs 12 months postamputation. Am J Phys Med Rehabil 2020. PMC
  10. The role of earlier receipt of a lower limb prosthesis on emergency department utilization. PM&R 2021. PMC
  11. Early receipt of a prosthesis linked to lower mortality in older veterans. J Rehabil Res Dev 2015;52(4). Amplitude
  12. Prosthetic fitting associated with better survival at 5 years after above-knee amputation due to vascular insufficiency. Ann Phys Rehabil Med 2023. EM-Consulte
  13. Pohjolainen T và cs. Prosthetic use and functional and social outcome following major lower limb amputation. Prosthet Orthot Int 1990. SAGE
  14. Atay IM và cs. The prevalence of prosthesis use with the effects on body image, depression, anxiety and self-esteem in lower-extremity amputations. Turk J Phys Med Rehab 2014;60(3):184–187. Link
  15. VA/DoD Clinical Practice Guideline for Rehabilitation of Individuals with Lower Limb Amputation, 2017; cập nhật 2024. VA, Clinician’s Guide 2024
  16. Amputee and Prosthetic Rehabilitation – Standards and Guidelines, 3rd ed. London 2018.
  17. Fard B và cs. Amputation and prosthetics of the lower extremity: the 2020 Dutch evidence-based multidisciplinary guideline. Prosthet Orthot Int 2023;47(1):69–80. Maastricht
  18. Multiple prosthetic sockets for lower limb amputations. NCBI Bookshelf
  19. Karolinska Institutet. Major lower extremity amputations: outcomes, complications, and patient perspectives (luận án). KI
  20. CROCS-BKA multi-centre study, RACS ASC 2024. RACS
  21. Use of the Femurett adjustable prosthesis in the assessment and walking training of new above-knee amputees. Prosthet Orthot Int 1989. O&P Library

Các nghiên cứu được đọc qua tóm tắt và trang tổng hợp; nên mở bản toàn văn trước khi trích dẫn chính thức trong ấn phẩm.

TAGS:

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

© Copyright 2022 Lê Hoàn - Allright reserved.
Contact Me on Zalo
0985211888